This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Đi bộ có lợi cho sức khỏe giống như chạy

Các nhà nghiên cứu tại Mỹ cho biết đi bộ cũng có ích lợi như vậy như chạy trong việc giảm nguy cơ huyết áp cao, cholesterol và bệnh tiểu đường.

 

Đi bộ có lợi cho sức khỏe giống như chạy 1
Tác kém chất lượng nghiên cứu, Paul T. Williams, Viện Khoa học cuộc sống ở Berkeley, California, và các đồng nghiệp đã phân tích 33.060 người chạy bộ và 15.045 người đi bộ trong 6 năm.

Nghiên cứu cho thấy đi bộ với cường độ vừa phải và chạy với cường độ mạnh có tác dụng như vậy trong việc giảm nguy cơ bị huyết áp cao, cholesterol cao, tiểu đường và bệnh tim mạch vành.

Tiến sĩ Williams nói “Đi bộ và chạy mang lại 1 thử nghiệm mới mẻ về lợi ích của việc đi bộ và chạy bởi vì chúng tác động đến các nhóm cơ như nhau và các hoạt động tương tự cũng được thực hiện tại những cường độ khác nhau”.

Tuy nhiên, không giống như các nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đánh mức chi phí đi bộ và chạy theo khoảng cách mà không theo thời gian.

“Chạy và đi bộ thường xuyên sẽ rất có lợi cho sức khỏe. Năng lượng tiêu tốn là như nhau bởi vậy lợi ích cho sức khỏe cũng vậy”, tiến sĩ Williams nói thêm.

Kết quả được công bố trên tạp chí The American Heart Association journal Arteriosclerosis, Thrombosis and Vascular Biology.

 

Theo

Dân trí/Upi

Bí quyết “bách niên giai lão”

“Bách niên giai lão” nghĩa là sống tròn tuổi 100, song cũng có những trường hợp siêu cao tuổi khi mà tuổi thọ của họ có thể đạt đến ngưỡng 110 tuổi hoặc cao hơn. Ðể có được sự trường thọ tột bậc này quả là một điều không dễ dàng. Chúng ta đều đã nghe nói tới những trường hợp siêu cao tuổi nhưng chúng ta không biết chắc chắn họ đã có những bí quyết gì để có thể sống khỏe mạnh tới thế. Bài viết dưới đây là cái nhìn sự thật đằng sau những trường hợp siêu cao tuổi, cũng như những lời “bật mí” nhằm đem đến cho độc chất lượng kém sự hiểu biết nhất định vào chính sách rèn luyện để sống lâu.

Cụ ông Shigechiyo Izumi: 120 tuổi

Bí quyết “bách niên giai lão” 1

Cụ ông Shigechiyo Izumi sinh năm 1865 ở quần đảo Amami (Nhật Bản). Bí quyết sống khỏe theo như lời cụ nói là uống Shōchū (thứ rượu truyền thống của người Nhật được chưng cất từ lúa mạch hoặc khoai lang), đây cũng là thứ thực phẩm hằng ngày của cụ. Trong rượu Shōchū có thành phần urokinase, một loại enzym chống đông máu cực kỳ bổ ích, có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch và đột qụy. Các cuộc nghiên cứu vào con người đã khám phá ra rằng, bằng việc hấp thụ rượu Shōchū sẽ có khả năng để sản sinh ra 1 lượng lớn urokinase - nhiều hơn trong rượu thường và rượu sake. Trong rượu Shōchū có rất ít calori và các chiết xuất khác, do vậy nó hầu như không tạo ra tác dụng phụ.

Cụ bà Jeanne Louise Calment (Pháp): 122 tuổi

Cụ bà Jeanne Louise Calment sinh năm 1875 ở Arles (Pháp). Bí quyết sống khỏe theo như lời cụ nói là sử dụng dầu ôliu cho các món ăn hằng ngày. Cụ được thừa tiếp nhân là người cao tuổi nhất hành tinh tính tới thời điểm cụ qua đời. Trong nhiều tài liệu, người ta thấy cụ bà Calment duy trì sự trường thọ và sức khỏe của mình bằng cách sử dụng dầu ôliu cho rất nhiều các món ăn cũng như lấy dầu ôliu phết lên cơ thể và mát-xa da hằng ngày. Có một bằng chứng y học cho thấy rằng, dầu ôliu có những lợi ích tim mạch rất khả quan. Trong dầu ôliu có tồn ở các chất béo không bão hòa đơn, đáng chú ý là acid oleic. Các dữ liệu xa hơn còn cho thấy rằng, dầu ôliu có khả năng chống viêm sưng, chống huyết áp (phòng ngừa chứng đông máu) và chống ôxy hóa. Ngoài ra, dầu ôliu được cho là làm nâng cao cường hệ miễn dịch.

Cụ bà Marie-Louise Meilleur (Canada): 117 tuổi

Bí quyết “bách niên giai lão” 2

Cụ bà Marie-Louise Meilleur sinh năm 1880 ở cộng đồng dân cư Kamouraska, Quebec (Canada). Bí quyết sống khỏe theo như lời cụ là sử dụng muối. Trái với cụ ông Shigechiyo Izumi, cụ Marie chưa bao giờ uống bất kỳ một giọt rượu nào và không ăn thịt. Thực chất thì khoa học nói rằng, dư thừa muối có thể khiến con người mắc các chứng bệnh như nâng cao huyết áp, loãng xương, ung thư dạ dày, viêm loét và là nguyên do làm gia nâng cao rủi ro của bệnh tim mạch và đột quỵ. Tuy nhiên, Viện Muối Quốc tế khẳng định rằng, muối không chỉ hoàn toàn là xấu mà với một số người nó lại là chìa khóa khiến gia nâng cao thêm tuổi thọ.

Cụ ông Emiliano Mercado del Toro (Puerto Rico): 115 tuổi

Bí quyết “bách niên giai lão” 3

Cụ ông Emiliano Mercado del Toro sinh năm 1891 tại cộng đồng dân cư Cabo Rojo (Puerto Rico). Bí quyết sống khỏe theo như lời cụ nói là sử dụng món Funche (một thứ ngô nấu chung với cá tuyết và sữa tươi). Cụ Emiliano Mercado del Toro phát triển thành người cao tuổi nhất toàn cầu được ghi tiếp nhân về ngày 11/12/2006. Được công nhận là cựu binh quân đội cao niên nhất toàn cầu ngay khi còn đang sống, cụ Emiliano Mercado del Toro cũng được người đời nhớ tới bởi khiếu hài hước và tình yêu phụ nữ. Trong suốt cuộc đời mình, cụ Emiliano liên tục ăn món Funche, 1 thứ đồ ăn truyền thống của người Peurto Ricao. Mặc dù món Funche vẫn chưa được nghiên cứu chính thức về lợi ích nó, nhưng một trong các thành phần then chốt là sữa tươi có chứa nhiều loại khoáng chất và vitamin quan trọng cho sức khỏe. Trong sữa rất giàu canxi và được nâng cao cường với vitamin D, 2 chất này làm ngăn ngừa căn bệnh loãng xương. Các cuộc nghiên cứu xa hơn đã chỉ ra rằng, sản phẩm từ sữa đã làm giảm thiểu nguy cơ gây bệnh ung thư ruột kết và khi kết hợp với các loại trái cây và rau củ quả khác, nó đã làm giảm chứng nâng cao huyết áp. Thậm chí, sữa còn ngừa sâu răng bằng cách làm giảm axít trong miệng.

Cụ ông John Ingram McMorran (Mỹ): 113 tuổi

Cụ ông John Ingram McMorran sinh năm 1889 ở thị trấn Goodland (Michigan, Mỹ). Bí quyết sống khỏe theo như lời cụ nói là uống cà phê. Cụ John McMorran là người cao tuổi nhất nước Mỹ. Trong suốt 11 thập niên, huyết áp của cụ John vẫn ổn định, bất chấp lời khuyên của y học hiện đại về sự trường thọ, cụ John vẫn đưa ra một công thức độc đáo làm nên sự trường thọ của mình: “Tôi uống 1 tách cà phê trước mỗi bữa ăn và tránh xa thứ rượu Whisky rẻ tiền”. Trong thực tế, cà phê  đã đem đến 1 số ích lợi sức khỏe đáng ghi nhận. Cà phê có các đặc tính chống ôxy hóa, hạn chế rủi ro phát triển bệnh ung thư gan và ruột kết so với những người không uống. Cà phê cũng giúp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh Parkinson và đồng thời cà phê cũng có tác dụng với các vận động viên như là chất kích thích thần kinh.          

T.HẢI (Theo ASK MEN, 1/2013)

Tính hai mặt của xét nghiệm sinh học phân tử

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, sự thành công của  “kỹ thuật tiếp nhân dạng” và “giải trình tự gen” đã tạo ra bước  nhảy vọt cho việc tổng hợp chuỗi gen PCR (polymerase chain reaction). Kỹ thuật này đã giúp cho việc xác định nguyên do gây bệnh được nhanh chóng và chuẩn xác cũng như giúp cho quá trình theo dõi, điều trị hiệu quả.

Xét nghiệm sinh học phân tử là gì?

Phản ứng tổng hợp PCR có khoảng 20 - 35 vòng, sau mỗi vòng thì DNA được khuếch đại lên theo hệ số mũ. Cho nên phản ứng PCR bản chất là phản ứng “nhân  bản, khuếch đại các đoạn DNA”. Năm 1983, Kary Mullis đã nghiên cứu thành công kỹ thuật  tổng hợp PCR giúp cho việc nhận diện vi sinh vật gây bệnh một cách nhanh chóng. Đây là kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử. Xét nghiệm này thoạt đầu trả lời được câu hỏi định tính (Trong mẫu thử có vi sinh đó không?).

Năm 1991, các nhà nghiên cứu tìm được cơ chế hoạt động theo chu trình từ đầu 5 tới đầu 3 của  DNA - polymerase, từ đó cho phép việc ghi tín hiệu trực tiếp, tức thời các quy trình diễn ra trong phản ứng tổng hợp PCR. Kỹ thuật ghi tín hiệu này có thuật ngữ là “Real - time PCR”. Phản ứng trong “Real - time PCR” cao hơn trong PCR khoảng 50 - 60 vòng. So sánh số vòng xảy ra trong mẫu thử gấp bao nhiêu lần trong mẫu chuẩn ta sẽ tính được lượng vi sinh trong mẫu thử. Như vậy kỹ thuật “Real  - time PCR” sẽ trả lời được boăn khoăn định lượng (Có bao nhiêu vi sinh trong mẫu thử?).

Vi sinh phải có mặt với một số lượng đủ to mới gây ra được bệnh. Phản ứng tổng hợp PCR cho phép ta nhận diện sự có mặt của vi sinh và phản ứng “Real - time PCR” cho ta định lượng được số vi sinh trong mẫu thử, cho nên sẽ giúp cho việc chẩn đoán nguyên do gây bệnh.

Khi sử dụng 1 liệu pháp nào đó để tiêu diệt vi sinh gây bệnh thì không bao giờ tiêu diệt hết 100% vi sinh mà chỉ làm giảm vi sinhh tới mức tối thiểu. Dùng phản ứng tổng hợp PCR và kỹ thuật “Real - time PCR” sẽ cho phép ta định tính và định lượng vi sinh ở từng thời điểm trong sau điều trị tức là cho phép đánh mức giá kết quả điều trị.

Tính 2 mặt của xét nghiệm sinh học phân tử 1 Làm xét nghiệm sinh học.

Những đề nghị khó tính vào kỹ thuật và sự sai sót hạn chế

Xét nghiệm sinh học phân tử phải được thực hiện trong điều kiện kỹ thuật rất khắt khe, nếu như không thực hiện đúng các điều kiện khó tính ấy thì sẽ có sai sót hạn chế:

Trong kỹ thuật tổng hợp PCR: Nếu nồng độ nguyên liệu không thích hợp, việc điều nhiệt tức thời không chín xác theo từng giai đoạn, thì phản ứng tổng hợp PCR sẽ có hiệu suất rất thấp, thậm chí có thể không xảy ra. Kết quả là phản ứng PCR âm tính, mặc dù các triệu chứng nhiễm vi sinh trên lâm sàng rất rõ. Nếu vô ý để diễn ra “sự nhiễm chéo” giữa các mẫu thử thì sẽ có phản ứng PCR dương tính, mặc dù các triệu chứng nhiễm khuẩn trên lâm sàng rất mờ nhạt.

Về kỹ thuật “Real - time PCR”: Ngoài một số chi tiết như kỹ thuật tổng hợp PCR thì cần thiết nhất là có thêm 1 thiết bị ghi tín hiệu khi phản ứng tổng hợp PCR xảy ra. So sánh số vòng của mẫu thử và số vòng của mẫu chuẩn đạt được trong cùng thời gian xảy ra phản ứng, sẽ tính được số vòng mẫu thử  gấp bao nhiêu lần số vòng mẫu chuẩn; từ đó tính được nồng độ DNA của mẫu thử. Như vậy, trong giai đoạn này đòi hỏi phải có một mẫu chuẩn rất tốt để so sánh.

Muốn định lượng mẫu thử  đúng thì mẫu chuẩn phải chính xác. Để loại trừ sai sót gây ra, thường phải so sánh một mẫu thử với 5 mẫu chuẩn liên tiếp có nồng độ chênh lệch nhau và bao giờ các kết quả của mẫu thử sau 5 lần so với các mẫu chuẩn ấy không có sự chênh lệch nhau quá giới hạn cho phép thì mới chấp nhận. Điều này đòi hỏi cả kỹ thuật lẫn sự kiên nhẫn cao. Không làm được điều này thì kết quả sẽ sai lạc.

Có 2 hạn chế trong xét nghiệm sinh học phân tử:

Mẫu chuẩn với mẫu thử chỉ đúng trong phạm vi nồng độ giới hạn, chứ không chín xác với mọi nồng độ. Do đó, duy nhất thể định lượng được mẫu thử trong phạm vi nồng độ giới hạn, ngoài khoảng đó ra, sẽ không chính xác.

Vi sinh gây bệnh thì hầu hết loại, trong khi đó ta mới duy nhất bản “giải trình tự gen” của 1 số ít vi sinh. Do đó không phải bệnh do vi sinh nào cũng có thể xét nghiệm bằng kỹ thuật xét nghiệm sinh học phân tử được.

Như vậy, xét nghiệm sinh học phân tử tuy rất hiện đại song vẫn có thể có những giảm thiểu và có thể có sai sót do chính việc thực hiện của con người.

Tương lai và sự ứng dụng

Có hầu hết vi sinh gây bệnh nhất là là các chủng mới như HIV, viêm gan b  (HBV), cúm A/H5N1, cúm A/H1N1, SARS..., mà ví dụ dùng phương pháp xét nghiệm vi sinh cổ điển sẽ không thể xác định hay đáp ứng chậm thì phương pháp xét nghiệm sinh học phân tử sẽ giải quyết được và đáp ứng nhanh hơn, nhờ đó mà giúp cho việc chẩn đoán cũng như đánh mức chi phí hiệu quả điều trị 1 số bệnh kịp thời.

Sự đánh tráo môi trường, lối sống cộng với sự trảo đổi của  các tác nhân gây bệnh, làm cho việc giải thích bệnh sinh không đơn giản, mà cần phải giải thích bằng mối tương tác phức tạp của nhiều tác nhân. Chẳng hạn, trong bệnh ung thư thì đâu là sự tàn phá do nhiễm khuẩn, đâu là sự suy kiệt do các hội chứng rối loạn chuyển hóa dai dẳng và đâu là tác động trường diễn của các chất độc trong tự nhiên... Thông qua kỹ thuật tổng hợp PCR và “Real - time PCR” có thể trả lời được các boăn khoăn hóc búa trên một cách lý thú và đáng tin cậy.

Tuy nhiên, xét nghiệm sinh học phân tử là kỹ thuật cao, tốn kém và cũng có mặt giảm thiểu chỉ nên sử dụng lúc các kỹ thuật cổ điển đáp ứng thấp. Các cửa hàng khám chữa bệnh chỉ nên sắm các thiết bị này lúc hội đủ các điều kiện nhân lực, kỹ thuật  với mục đích thiết thực. Người bệnh không nên lạm dụng các xét nghiệm theo ý thích mà tuân thủ sự chỉ dẫn của thầy thuốc.       

 

  DSKII. Dùi Văn Uy

Đi bộ thế nào có lợi cho sức khỏe?

Đi bộ có lợi cho sức khỏe, đó là lời khuyên của các thầy thuốc, Nhưng lúc hỏi: “như thế nào?”, mỗi người trả lời 1 khác.

Ngay trên báo chí cũng vậy, chỗ thì viết: phải đi nhanh mới có tác dụng giảm cân; chỗ viết: người béo phì không nên đi bộ nhanh... làm cho người đọc hoang mang, không biết thông tin nào đúng, thông tin nào sai.

Lợi ích của đi bộ: mọi hình thức vận động đều làm nâng cao sự lưu thông khí huyết. Đi bộ nói chung là 1 phương pháp tập luyện phù hợp với nhiều người (từ trẻ em đến cụ già, người ốm, người khỏe, người mang thai, người béo phì...). Mỗi người căn cứ về sức khỏe và hiện trạng của mình mà chọn cách đi bộ cho phù hợp, sẽ có tác dụng:

 - Tăng mật độ xương, chống loãng xương, kích thích tiết chất chống thoái hóa khớp.

- Tăng độ dẻo dai, rắn chắc của gân cốt, cơ bắp.

- Kích thích tiêu hóa giúp ăn ngon ngủ sâu; chống táo bón.

- Tăng cường chuyển hóa, chống bệnh mỡ máu cao, giảm cholesterone xấu, nâng cao cholesterone tốt.

- Tăng tuần hoàn máu, tăng dẻo dai thành mạch, điều hòa huyết áp, tăng chỉ số thông minh (IQ).

- Giảm nguy cơ các bệnh: tim mạch (cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, xuất huyết não, đột quỵ); đái tháo đường; chứng béo phì.  

- Giảm stress.

- Chống suy giảm sinh dục (rối loạn cương, lãnh cảm nữ).

- Chống trầm cảm (do tăng tiết Dopamin và Serotonin).

- Tăng sức đề kháng, giảm cảm cúm, nhiễm trùng; giảm nguy cơ ung thư (vú, tử cung, tuyến tiền liệt, đại tràng); giảm đau nhức (cơ, xương).

 - Chống lão hóa, chống teo não, chống suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi.      

 - Chống thói quen lười vận động (nhất là thanh , thiếu niên hiện nay).

- Bổ sung vitamin D3 cho cơ thể (khi phơi nắng trên 10 phút cơ thể sẽ sản sinh 10.000 UI). 

 Tùy theo cách đi mà có các ích lợi cụ thể khác nhau. Ví dụ:

- Người mang thai 3 tháng cuối, nên đi bộ chậm, bước vừa phải không gắng sức, thời gian đi bộ mỗi ngày khoảng 30 phút (có thể chia làm hai lần) sẽ có lợi cho cả mẹ và con (chống nâng cao cân nhiều, chống sản giật, đái tháo đường, táo bón, giúp dễ đẻ).

- Người béo phì muốn giảm cân, nên đi bộ chậm sẽ tránh được nguy cơ viêm khớp, chấn thương khớp, đốt nhiều mỡ thừa hơn. Thời gian đi bộ thấp nhất 30 phút/ngày.

- Trẻ em đi học (từ lớp 1 trở lên, ví dụ đoạn đường từ nhà tới trường dưới 2.000m) nên cho đi bộ. Ngày đầu, người to nên đi kèm để hướng dẫn cách đi (không nhanh quá, chậm quá, không được chạy nhảy). Tạo cho các em thói quen tự rèn luyện(không ỷ lại về người to chở đi học). Làm cho khí huyết lưu thông, cơ bắp rắn chắc, lúc học dễ tiếp thu hơn. Cơ thể được tiếp xúc với ánh nắng, tạo ra Vitamin D3 chống còi xương.

Đi bộ thế nào có lợi cho sức khỏe? 1 Khi đi bộ, người tập cần mang trang phục gọn gàng, mang giày đế bằng...

Các cách đi bộ:

- Đi bách bộ: người làm việc nhà, hoặc sinh hoạt trong nhà, người bị bệnh tim mạch (nên đi trong nhà); trẻ em tới trường.

- Đi vừa phải, chân bước  tay vung ngang ngực (như bộ đội duyệt binh) cho người sức khỏe bình thường, hoặc bệnh nhẹ.

- Đi chậm (người: béo phì, mang thai 3 tháng cuối, ốm nặng mới hồi phục).

- Đi nhanh, sải chân dài, chân bước tay vung. Tốc độ 80 - 100 bước/phút. Năng lượng tiêu hao 270kcal/giờ. Nhu cầu oxy: 56 l/giờ (người khỏe dư cân).

- Leo cầu thang (người khỏe làm việc trong nhà nhiều tầng).

- Đi trong máy tập.

Môi trường đi bộ cần trong lành, không nắng gắt.

Thời khắc đi bộ ngoài trời:

- Buổi sáng: sau lúc mặt trời mọc 30 phút đến 10 giờ sáng

- Buổi chiều:  16 - 18 giờ (ngày trời râm có thể đi bộ từ 15 giờ).

(Đi bộ về các thời điểm nói trên là rất tốt nhất, nhưng duy nhất thể thực hiện được với người đã nghỉ hưu, người làm nghề tự do, còn các đối tượng khác lại trùng với giờ làm việc buổi sáng).

Thời gian đi bộ :  tối thiểu  30 phút, tối đa 60 phút.

Môi trường đi bộ cần trong lành, không nắng gắt.

Người đi bộ cần mang: trang phục gọn gàng, đi giày vải đế bằng, đeo kính râm, đội mũ lưỡi trai. Mùa rét: mặc quần áo đủ ấm, không bó sát người. Mùa nóng: mặc quần đùi, áo 3 lỗ. Không sử dụng kem chống nắng, không mặc áo chống nắng.

Những trường hợp không nên đi bộ tập luyện: đó là những người đang trong tình trạng hoặc có dấu hiệu: chóng mặt, khó thở, rối loạn tuần hoàn não nặng, thoát vị đĩa đệm, viêm khớp, thoái hóa khớp, lỏng khớp, viêm gót chân, bàn chân, viêm tắc động, tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch chân, phù hai chi dưới, đau cơ, teo cơ, mệt mỏi, hành kinh, thai đạp mạnh, hen suyễn, đau mắt, nhức đầu nặng...

Việc không nên làm khi đi bộ tập luyện:

- Không nói chuyện (hại sức khỏe, tổn chân khí).

- Không suy nghĩ lung tung, mà phải tập trung chú ý về hơi thở và bước đi.

- Không dắt trẻ em  hoặc dắt tay mgười khác.

- Không cầm thứ gì tại tay (nếu mang theo ô hoặc áo mưa, nước uống... thì cho về túi có quai dài đeo trên vai).

DS. TRẦN XU N THUYẾT

Ðiều trị teo lõm nửa mặt bằng bơm mỡ tự thân

Từ khi 5 tuổi, chị M. luôn mặc cảm với khuôn mặt dị dạng teo tóp của mình do một căn bệnh quái ác gây nên mà y học gọi là hội chứng Parry-Romberg. Giữa lúc tưởng chừng như tuyệt vọng vì đã chữa chạy khắp nơi bằng nhiều cách mà vẫn không điều trị được dứt điểm, chị M. đã được các bác sĩ Khoa Phẫu thuật tạo hình - hàm mặt, BV Việt Đức “tái sinh” lại khuôn mặt bằng phương pháp mới lấy mỡ tự thân kết hợp với tế bào gốc. Phương pháp mới này không chỉ giúp bệnh nhân làm đầy được các vùng bị teo lõm mà còn tránh được các biến chứng mà các phương pháp cũ gây ra như u cục, ung thư...

Sống khép kín vì khuôn mặt teo lõm, xô lệch

35 tuổi, chị N.T.M. ở Hà Giang vẫn đi vào một mình dù có một công việc ổn định, thu nhập cao, dáng hình cân đối, các nét trên khuôn mặt rất đẹp... Mặc cảm vì 1 nửa khuôn mặt bị teo tóp hõm sâu làm xô lệch, M. chưa một lần dám hẹn hò cùng ai, thậm chí còn chẳng dám nhìn thẳng vào người khác. Chị luôn mặc cảm, đau đớn, sống khép kín vì căn bệnh quái ác của mình.

Ðiều trị teo lõm nửa mặt bằng bơm mỡ tự thân 1 Bệnh nhân trước và sau một năm được bơm mỡ và tế bào gốc.

Theo lời kể của gia đình, thuở nhỏ, M. là một đứa bé xinh đẹp kháu khỉnh, nhưng không hiểu vì sao từ khi 5 tuổi một nửa khuôn mặt của M. cứ càng ngày teo tóp, phần mỡ dưới da cứ tự tiêu đi, khiến phần mặt này nhăn nheo, chỉ còn da bọc xương. Gia đình cũng đưa M. đi khám chữa nhiều nơi, uống đủ các loại thuốc, xoa bóp châm cứu, tiêm botox... nhưng chỉ được một thời gian ngắn, má lại hóp, mặt lại lệch. Mặc cảm vì vẻ ngoài chẳng giống ai của mình, M. rất ít giao du bạn bè và khi nào cũng chỉ loanh quanh ở nhà, miệt mài với sách vở. Nhưng được người nhà động viên, M. lại tiếp tục thử vận may của mình tại BV Việt Đức. Tại đây, sau lúc thăm khám, M. được chẩn đoán mắc hội chứng Parry-Romberg, 1 căn bệnh không rõ nguyên nhân, do hệ miễn dịch tấn công và ăn mòn các mô cơ trên nửa gương mặt. Sau khi hội chẩn, các bác sĩ đã quyết định áp dụng phương pháp mới cho trường hợp này, đó là lấy mỡ tự thân từ cơ thể bệnh nhân, nuôi cấy tế bào gốc và đưa về chữa trị. Nhờ đó khuôn mặt bệnh nhân đã đầy đặn và cân đối trở lại. Thành công này không chỉ mang lại niềm vui, niềm kỳ vọng cho bệnh nhân và gia đình mà còn là động lực cho các bác sĩ tiếp tục nghiên cứu tìm ra những cách điều trị mang lại hiệu quả cao nhất cho bệnh nhân.

Hội chứng Parry- Romberg là gì?

TS. Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình - hàm mặt, BV Việt Đức cho biết, có nhiều nguyên do gây teo lõm tổ chức phần mềm như sau chấn thương, sau chiếu tia xạ, sau cắt bỏ khối u, sau các bệnh lý nhiễm khuẩn (lao, HIV...). Đặc biệt, đối với bệnh lý bẩm sinh gây teo lõm nửa mặt như trường hợp trên được gọi là hội chứng Parry-Romberg.

Theo y văn thế giới, hội chứng Parry- Romberg là hội chứng sọ mặt được miêu tả trước hết bởi Parry năm 1825, tới năm 1846 được diễn tả bởi Romberg. Những rối loạn này thường không rõ nguyên nhân mặc dù gần như kém chất lượng thuyết vào bệnh sinh được đề xuất. Hầu hết những nhái thuyết này đều cho rằng đây là một bệnh lý tự miễn mạn tính do nhiễm virut (Herpes) gây viêm thần kinh sinh ba, xơ cứng bì, khuếch đại hệ thần kinh giao cảm và làm teo lõm nửa mặt. Bệnh này không hiếm nhưng ít người biết tới và thường diễn ra ở nữ nhiều hơn nam. Hội chứng teo mặt thường Tiến hành khi bệnh nhân còn nhỏ, khoảng 5 tuổi và phát triển đến khoảng 15 tuổi thì dừng lại. Những người mắc hội chứng này thường mặc cảm, sống khép kín do gương mặt không được cân đối. Thậm chí, một số người còn bị teo cả phần xương khiến vẻ ngoài méo mó.

Tế bào gốc từ mô mỡ tự thân nâng hiệu quả điều trị đến 90%

Theo TS. Hà, trước đây, để làm đầy tổ chức cho những bệnh nhân bị teo lõm vùng mặt người ta thường sử dụng dầu paraphine và sau đó là silicon nhưng các chất liệu này thường gây nhiều biến chứng như viêm nhiễm, u cục... Ngày nay, có hầu hết cách tạo hình không như nhau để nâng cao thể tích phần mềm vùng teo lõm như bơm mỡ tự thân, ghép trung bì mỡ, ghép sụn, xương tự thân, sử dụng các chất liệu độn như silicon, alloderm, hay sử dụng các vạt vi phẫu (vạt bả, vạt cơ lưng to...). Tuy nhiên, chất liệu mỡ tự thân là một chất liệu rất tốt và thường được sử dụng trong bệnh lý Romberg.

Tại BV Việt Đức, trước đây, để điều trị cho người bị hội chứng này, các bác sĩ thường lấy mỡ từ cơ thể người bệnh (chủ yếu là vùng đùi, bụng dưới), bơm về phần mặt bị lép, có thể giúp cho vùng này đầy đặn lên. Ưu điểm của phương pháp này là tránh được nguy cơ thải loại hay lây truyền chéo các bệnh qua máu do lấy mỡ tự thân. Nếu thực hiện đúng quy trình, tỷ lệ mỡ sống khoảng 60-70% sau bơm. Tuy nhiên hiện nay, các chuyên gia đã tìm ra phương pháp mới là áp dụng bơm mỡ kết hợp với công nghệ tế bào gốc giúp nâng tỷ lệ sống của mỡ tự thân, khiến khuôn mặt của bệnh nhân luôn cân đối, ổn định. Đặc biệt, tế bào gốc sẽ giúp tỷ lệ mỡ sống được cao lên 70-90%, số lần bơm cũng giảm bớt từ 2-3 lần còn 1-2 lần. Tế bào gốc được qua nhiều khâu xử lý, cô đặc máu tĩnh mạch của chính bệnh nhân, có tác dụng giúp trẻ hóa da, làm liền vết thương nhanh, kích thích các mô mới phát triển tốt. Phương pháp mới này không chỉ giúp làm đầy mặt cho bệnh nhân bị lép mặt do hội chứng Rumberg hay những người có mặt quá gầy, hóp má, miệng... mà còn có thể sử dụng bơm lên ngực cho trường hợp ngực bị lệch tự nhiên hay sau quá trình cho con bú, người sau phẫu thuật cắt bỏ vú do ung thư, sau chấn thương, hội chứng Poland...

Để điều trị bằng phương pháp này, bệnh nhân sẽ được hút mỡ tại các vùng có không ít như đùi, bụng. Hỗn hợp mỡ lấy ra bao gồm máu, huyết thanh, tổ chức mỡ sẽ được quay ly tâm bằng máy trong 3 phút với tốc độ 30.000 vòng/phút. Hỗn hợp sau ly tâm sẽ tách được thành phần mỡ riêng. Đồng thời, các bác sĩ cũng lấy máu để tách tế bào gốc. Sau đó, mỡ và tế bào gốc được tiêm về nơi cần làm đầy bằng xi lanh 1cc theo nhiều hướng khác nhau.

Sau điều trị, bệnh nhân có thể xuất viện ngay trong ngày ví dụ gây tê tại chỗ hoặc sau một ngày ví dụ gây mê toàn thân. Đường rạch da vùng lấy mỡ và bơm mỡ có kích thước nhỏ khoảng trên dưới 2mm không để lại sẹo xấu.              

 

  Lam Giang

8 nguyên nhân khiến đàn ông hiếm muộn

Theo các bác sĩ hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP HCM, bệnh quai bị, giãn tĩnh mạch thừng tinh, tinh hoàn ẩn... khiến đàn ông chậm có con.

Thạc sĩ - bác sĩ Hồ Mạnh Tường, Tổng thư ký hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP HCM giải thích, trục trặc về phía người đàn ông chiếm 25% nguyên nhân khiến cả hai vợ chồng chậm con hoặc không có con. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này.

Bệnh quai bị

Nếu sau tuổi dậy thì, bệnh có thể gây hại cho các tế bào sản xuất tinh trùng trong tinh hoàn. Trong phần lớn trường hợp, chỉ một bên tinh hoàn của bệnh nhân bị ảnh hưởng. Một số người bệnh ảnh hưởng cả 2 tinh hoàn khiến việc sinh tinh không còn nữa. Chính vì vậy cần phải có phải tiêm ngừa phòng quai bị và chẩn đoán bệnh sớm để điều trị.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh

Đây là tình trạng tĩnh mạch xung quanh tinh hoàn bị giãn do máu không lưu thông bình thường. Thay vì máu tới có thể thoát ra thì ùn ứ lại khiến tĩnh mạch bị giãn. Tình trạng máu ứ cũng làm tăng nhiệt độ ở tinh hoàn, từ đó biến đổi bất thường nồng độ testosteron (nội tiết nam) gây cản trở việc sản sinh tinh trùng.

Tinh hoàn ẩn

Khi bé trai phát triển trong tử cung người mẹ, tinh hoàn được hình thành tại ổ bụng và di đưa xuống bìu 1 thời gian ngắn trước lúc sinh. Nếu việc di chuyển này không xảy ra, bé trai sẽ có tinh hoàn ẩn. Thông thường, tinh hoàn sẽ di chuyển xuống bìu vào tháng thứ 6 của thai kỳ. Nếu không điều trị, bệnh có thể ảnh hưởng tới khả năng sinh sản hoặc các khiếu nại sức khỏe khác.

Ung thư tinh hoàn

Bệnh đôi lúc được phát hiện lúc vợ chồng đi khám hiếm muộn. Nguyên nhân do khối u ác tính phát triển trong tinh hoàn, phá hủy các mô tinh hoàn gây ảnh hưởng đến việc sinh tinh. Nếu không phát hiện sớm, không chỉ gây vô sinh mà ung thư tinh hoàn còn có thể di căn đến các bộ phận khác gây nguy hiểm tính mạng.

Phẫu thuật hoặc chấn thương

Chấn thương tinh hoàn nghiêm trọng có thể ảnh hưởng tới khả năng sản xuất tinh trùng dẫn tới vô sinh. Chấn thương do chơi thể thao hoặc tai nạn có thể làm máu không lưu thông tới tinh hoàn. Ngoài ra, phẫu thuật chữa trị tinh hoàn ẩn, thoát vị cũng có thể ảnh hưởng đến việc sinh tinh.

Bất thường mào tinh

Ở 1 số nam giới, tinh dịch xuất về âm đạo người phụ nữ trong lúc giao hợp chứ không phải tinh trùng. Điều này có thể do tắc nghẽn hoặc dị tật mào tinh, ngăn cản tinh trùng kết hợp với dịch lỏng tạo thành tinh dịch. Cần thăm khám và điều trị sớm.

Nhiệt độ cao

Không phổ biến và thường chỉ mang tính tạm thời bởi không ai có thể ngâm mình trong nước nóng cả đời, đây cũng là yếu tố bất lợi cho việc sản xuất tinh trùng. Ngâm mình trong nước nóng quá lâu có thể làm nâng cao nhiệt độ tinh hoàn và làm suy yếu tạm thời khả năng sản xuất tinh trùng.

Tiểu đường - Căng thẳng mệt mỏi hoặc uống rượu

Tiểu đường được chứng minh ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng. Ngoài ra, làm việc quá sức, lo lắng, stress, sử dụng thức uống có cồn đều ảnh hưởng tiêu cực đến say mê muốn tình dục. Hầu hết trường hợp bất lực được thăm khám đều có liên quan đến yếu tố tâm lý, ảnh hưởng tới chuyện chậm có con tại đàn ông.

Theo

VnExpress

Trí nhớ

Sự phát triển vượt bậc của y học dẫn tới những câu chuyện như trong cổ tích, việc lấy tim, gan, thận của người này ghép cho người kia đã trở thành hiện thực. Hơn thế, các thầy thuốc với những đôi tay vàng còn thực sự gây bất ngờ hơn khi họ đã làm thêm được một điều: lai ghép cả một phần... trí nhớ giữa người cho và người nhận tạng.

Những điều kỳ lạ…

Một em gái được ghép tim của 1 nạn nhân trong một vụ giết người chưa rõ thủ phạm. Sau lúc bình phục, em gái này luôn có những cơn ác mộng về 1 kẻ sát nhân đang giết 1 người nào đó. Trong giấc mơ, em thấy mình bị bắn và còn nhận thấy rõ địa điểm, khẩu súng, trang phục và khuôn mặt cũng như vóc dáng của kẻ giết người. Những cơn ác mộng cứ tái diễn thường xuyên khiến cho gia đình quyết định đưa em đến gặp bác sĩ tâm lý. Sau lúc nghe kể lại, vị bác sĩ tâm lý đã khuyên em tới gặp cảnh sát và cảnh sát đã tiến hành truy bắt được kẻ giết người theo đúng như em mô tả.

Một phụ nữ 29 tuổi, đồng tính luyến ái và nghiện ma túy được ghép tim của 1 cô gái 19 tuổi, rất hấp dẫn nam giới và có thói quen ăn chay. Sau khi được ghép tim, cô gái này tự nhiên không thích ăn thịt cá, chuyển sang ăn rau quả, bỏ được ma túy và thậm chí cô ta còn có ý định cưới 1 người đàn ông mạnh mẽ làm chồng!

Cũng tương tự như vậy, người cho tạng là nữ giới 24 tuổi, tử vong do tai nạn giao thông. Người nhận là nam giới, 25 tuổi, bị bệnh tim, phổi bẩm sinh nên được chỉ định ghép cả tim và phổi của người cho. Những điều tương tự cũng diễn ra lúc chàng thanh niên tự nhiên trở nên... nữ tính hơn và lại thích kết bạn với nam hơn là nữ giới.

Ngoài những ví dụ trên, người ta cũng tiếp nhân thấy những sự trảo đổi kỳ lạ vào sở thích, thói quen, tính tình... tại đa số bệnh nhân sau lúc được ghép tạng và những thay đổi này lại có xu thế giống với những đặc điểm của người cho tạng. Những hiện tượng nói trên đã được diễn tả đầy đủ trong y văn và thực sự mới được Quan tâm tới ở những bệnh nhân sau lúc được ghép tạng. Một số các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và kết quả cho thấy nhiều bệnh nhân sau khi được ghép tạng, nhất là sau ghép tim, đều có những đánh tráo về tâm lý, tính tình và thói quen giống như người cho tạng.

Trí nhớ - Ði­ều bí ẩn sau ghép tạng 1 Có nhiều điều kỳ lạ về trí nhớ con người sau ghép tạng mà tới nay khoa học vẫn chưa lý giải được.

... Đến những nhái thiết

Sau hàng loạt những trường hợp được phát hiện, rất nhiều giả thuyết được đặt ra nhằm giải thích những hiện tượng trên. Đầu tiên là các ý kiến về tâm linh, có tính chất huyền bí, “ác kém chất lượng ác báo” như ví dụ đã diễn tả tại trên. Giả thuyết tâm linh, cho dù không đưa ra được những bằng chứng cụ thể như khoa học thực nghiệm và ít nhiều mang tính chất siêu nhiên, siêu phàm nhưng đây cũng là 1 giả thiết không dễ gì bác bỏ.

Ngoài những ý kiến nghiêng về góc độ tâm linh, các nhà khoa học đang nỗ lực lý giải hiện tượng trên một cách rõ ràng nhất. Thứ nhất, người ta lý giải hiện tượng trên thông qua việc người được ghép tạng đã biết được những thông tin vào người cho tạng và sau đó tự “ám thị” vào những thói quen, thị hiếu cũng như những giấc mơ của họ (người cho tạng). Những thông tin này có thể người nhận tạng đã biết trước hoặc họ nghe được từ nhân viên y tế trong quá trình ghép tạng mặc dù vào nguyên tắc, những thông tin về người cho tạng được đảm bảo tuyệt đối bí mật. Điều khó lý giải của giả thiết này là trong phần to các trường hợp, thông tin về người cho tạng được bảo mật tuyệt đối, thậm chí chính những thầy thuốc tham dự ghép tạng cũng không được biết ngoài những thông tin thiết yếu cho cuộc mổ, vậy mà sau đó hiện tượng mơ về người cho tạng vẫn xảy ra. Thứ 2 là giả định vào “trí nhớ của tế bào”. Giả thiết này đã và đang được chứng minh trên nhiều phương diện và có vẻ được chấp nhận rộng rãi vì tính chất khoa học của nó. Người ta cho rằng, mỗi tế bào trong cơ thể người, đặc biệt là những tế bào có liên hệ mật thiết với hệ thần kinh, hay có tính chất “thần kinh” sẽ có khả năng lưu giữ thông tin rất lớn. Tế bào của các tạng, nếu như như tế bào cơ tim là một loại tế bào đặc biệt, có tính tự động hóa rất cao nên việc có “trí nhớ” là hoàn toàn có thể. Tất cả những người hiến tim đều là những người khỏe mạnh bị đột tử trong các vụ tai nạn, bị sát hại... nên quả tim ngừng làm việc hết sức đột ngột. Khi được “sống lại” sau ghép, quả tim vẫn tiếp tục chu trình làm việc trước đó gần giống như lúc tại người cho và ảnh hưởng tới tâm sinh lý của người nhận. Các nhà khoa học cũng tìm được những chất dẫn truyền thông tin từ não tới các cơ quan. Những chất này thường duy nhất ở hệ thần kinh nhưng lại có hiện tượng tại cả tế bào cơ tim cũng như tại tế bào các phòng khác trong cơ thể, từ đó dẫn tới giả định “phải chăng tế bào này cũng có khả năng lưu trữ và vận chuyển thông tin?”. Cuối cùng, việc dùng các thuốc ức chế miễn dịch nhằm chống việc cơ thể thải loại các phòng “lạ” sau ghép cũng có thể góp phần về hiện tượng nâng cao cường truyền thông điệp trí nhớ - tế bào từ các bộ phận người cho sang các cơ quan người nhận và gây nên các hiện tượng kỳ lạ sau ghép tạng.

Thay cho lời kết

Mặc dù đã được tìm hiểu rất kỹ, nhưng cơ thể của mỗi người chúng ta - những “tiểu vũ trụ”, vẫn thực sự có những điều bí ẩn mà khoa học hiện đại vẫn chưa lý giải nổi. Các hiện tượng kỳ lạ vẫn đang và sẽ xảy ra, cần được chứng minh một cách hoàn hảo nhất. Và trong lúc chờ đợi những câu trả lời cụ thể, suy cho cùng, dù ở góc độ tâm linh hay khoa học, những hiện tượng kỳ lạ xảy ra sau ghép tạng vẫn chứng tỏ có một sợi dây vô hình đang tồn tại giữa những người cho tạng (đã chết) với người được nhận tạng (còn sống). Điều này mang 1 ý nghĩa nhân văn hết sức cao cả, một sự ràng buộc, 1 tình cảm gắn bó, một mối liên hệ hết sức thiêng liêng giữa con người với con người - dù còn sống hay đã chết và y học hiện đại, dù vô tình hay cố ý, cũng có thể đang làm được 1 công việc siêu phàm: duy trì được 1 phần cơ thể và trí nhớ của người đã chết luôn tồn tại và hoạt động trên thế gian này!            

 TS.BS. Vũ Đức Định